Featured Posts
Chỉ cần vào mạng internet, vô google rồi gõ chữ "fasting" là nhiều người đã tự thực hành chữa bệnh bằng phương pháp nhịn đói. "Hay nhịn ăn từ 7-10 ngày là mọi thứ bệnh có thể được tống khứ khỏi cơ thể"- Người ta truyền tai nhau như thế! Sự thật thế nào?

Bác sĩ Lê Hùng- Viện phó viện y dược học dân tộc TP.HCM cho biết:

Có thể với một số người

Theo BS Lê Hùng, tế bào trong cơ thể người luôn được thay thế mới liên tục và có thể thay đổi toàn bộ tế bào trong một thời gian ngắn. Thế nhưng sự thay đổi của tế bào luôn bị tác động bởi môi trường bên ngoài. Với cuộc sống hiện nay, con người luôn luôn ở trạng thái nhiễm độc từ từ. Hầu như các loại thức ăn đều bị nhiễm độc do sử dụng chất bảo quản, thuốc tăng trưởng, thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh, nước thải có nhiều độc chất. Còn ra đường còn phải hít thở không khí ô nhiễm bởi khói, bụi, chì... thải từ nhà máy, xe cộ. Tất cả những thứ này liên tục gây nhiễm độc cho con người. Chính vì vậy, xuất hiện ngày càng nhiều các bệnh như tiểu đường, ung thư... Vấn đề quan trọng là phải khử độc cho cơ thể.Mua gậy chống bằng gỗ cho người già tại TP.HCM. Gậy gỗ nguyên chất 100%

chữa bệnh bằng phương pháp nhịn đói
BS Lê Hùng

Nhịn đói là một phương pháp giúp cơ thể được nghỉ ngơi và chỉ tập trung cho việc thanh lọc chất độc. Lâu nay, nhịn đói được ghi nhận là một trong những phương pháp để chữa bệnh đã được áp dụng ở một số nước trên thế giới. Về nguyên tắc, có thể áp dụng phương pháp nhịn đói để chữa một số bệnh như béo phì, suy nhược thần kinh, cao huyết áp, cảm cúm... Song không phải ai, bệnh gì áp dụng phương pháp này cũng hiệu quả.

Nhịn đói để chữa bệnh không phải là một phương pháp đơn giản, mà đòi hỏi quyết tân cao. Mỗi loại bệnh có cách áp dụng khác nhau và phải được BS theo dõi chặt chẽ trong những lần đầu thực hiện.

Nếu đủ điều kiện thực hiện thì tiến hành bắt buộc phải được theo dõi chặt chẽ bởi bác sĩ và những người có kinh nghiệm về phương pháp nhịn đói hứng dẫn. Sự theo dõi này rất cần thiết để biết lúc nào thì ngưng nhịn đói và ăn trở lại như thế nào.

Chưa có quy trình
Thông thường người hướng dẫn sẽ đặt tiêu chí cho người muốn nhịn đói chữa bệnh từ 1,2,3... ngày hoặc tối đa là 1 tuần- trừ những trường hợp đã quen với phương pháp này có thể nhịn đói lâu hơn. Thường thì người ta áp dụng phương pháp nhịn đói để điều trị một số phương pháp nhịn đói để điều trị một số chứng bệnh nào đó trong một khoảng thời gian nhất định (khi hết bệnh thì ngưng). Tuy nhiên, có những người đặt ra quy trình nhịn đói thành nếp sống trong cuộc sống của mình. Ví dụ nhịn đói một ngày trong tuần để thanh lọc cơ thể, hoặc trong một tháng nhịn 2 ngày chủ nhật hoặc vào ngày nghỉ. Khi cơ thể quen dần với việc nhịn đói thì người nhịn sẽ đạt được sự bình an về thể chất và tinh thần.

chữa bệnh bằng phương pháp nhịn đói

BS Hùng lưu ý là những người nhịn đói trong 1-2 ngày đầu thường có biểu hiện mồ hôi ra nhiều và hôi, đi tiểu nước vàng, mệt mỏi trong người, miệng hôi... Đây là biểu hiện của quá trình thải độc. Thường khi thấy các hiện tượng này, nhiều người không biết sẽ rất lo sợ và không dám tiếp tục nhịn ăn.

Theo BS Hùng, hiện viện Y dược dân tộc TP.HCM chưa có quy trình giúp người bênh nhịn đói hoàn toàn để chữa bệnh, nhưng trong điều trị vẫn luôn hướng dẫn người bệnh ăn theo chế độ, khẩu phần ăn bệnh lý, tiết thực (nhịn đói một phần) như trong điều trị bệnh béo phì, tiểu đường, tim mạch... Song, để phương pháp nhịn đói được áp dụng một cách hiệu quả và an toàn cần phải có công trình nghiên cứu chứng minh hiệu quả.
Nước là chất hòa tan và tham gia vào quá trình lý hóa, ion hóa các chất điện giải, điều hòa áp lực thẩm thấu.

Trong cơ thể, áp lực thẩm thấu được bình ổn nhờ một hệ thống điều hòa rất chính xác. Thận với sự thải trừ nước tiểu có thành phần luôn thay đổi để phù hợp với chuyển hóa, đóng một vai trò quan trọng.

70% cơ thể chúng ta là nước

Chất điện giải trong cơ thể nhờ các ion Natri, Kali, Clo. Trong muối ăn (Natri clorua ) có các ion Na, Clo. Căn cứ điện giải mất kèm theo nước, người ta chia ra:

  • Mất nước ưu trương, khi mất nước nhiều hơn chất điện giải, gây ra tình trạng ưu trương cho cơ thể (mất nước do đái nhạt, do hơi thở, do mồ hôi, sốt cao) tiếp nước không đủ mà phải bù cho các chất điện giải.
  • Mất nước đẳng trương do nôn mửa, ỉa chảy... Hậu quả là ion Natri ngoài tế bào (ngoại mô), nước gian bào (dịch gian bào-lớp nước giữa 2 tế bào) vào tế bào qua màng tế bào để ion Kali thoát ra gây rối loạn điện giải. Do vậy, trong điều trị việc bù đắp nước còn phải bù đắp cả chất điện giải. Vì vậy, trường hợp này, thầy thuốc thường cho uống dung dịch O-re-don (ORS) hoặc nặng thì truyền dung dịch Lactat Ranh De (Lactat Ringer).
Mỗi khi ta bị ra nhiều mồ hôi (đi dưới nắng nóng, tập thể thao...), ta cảm thấy khát nước, báo hiệu một hiện tượng thiếu nước trong cơ thể. Nhưng uống bao nhiêu nước đến no bụng vẫn thấy khát. Nếu pha vào nước một ít muối ăn (Natri clorua), uống tuy ít nhưng vẫn thấy đỡ khát hơn. Vì sao? Lượng mồ hôi thay đổi rất lớn (0,2-0,5 lít) tùy theo thời tiết, cường độ lao động.Mua gậy chống bằng gỗ cho người già tại TP.HCM. Gậy chống chắc chắn và bền bỉ.

uống nước ngay cả khi bạn chưa khát

Nói chung, mồ hôi có tính nhược trương nhưng nồng độ điện giải (ion Natri và Clo) dao động khi cơ thể mất 4 lít nước, sự bù đắp nước trong mồ hôi dễ dàng bằng uống nước. Nhưng khi mất 5 lít nước trở lên, cơ thể tuy điều tiết bài tiết ra ít muối hơn nhưng vẫn phải bù đắp thêm muối. Nếu chỉ uống nước không, dịch ngoài tế bào trở nên nhược trương, tế bào tích nước, rối loạn chuyển hóa:  người mau mệt mỏi, vã mồ hôi (thứ phát), uể oải, nhức đầu, buồn nôn, tim mạch nhanh...

giọt nước

Vai trò của nước uống thật quan trọng. Nếu chúng ta chỉ uống nước khi thấy khát nghĩa là khi cơ thể thật sự thiếu nước, điều này thật không tốt cho cơ thể. Một chế độ dinh dưỡng tốt là phải cung cấp thường xuyên đầy đủ nước cho cơ thể để các cơ quan nội tạng hoạt động bình thường. Thông thường để có thể có đủ lượng nước , mỗi ngày nên uống ít nhất 0,4 lít nước cho mỗi 10kg trọng lượng, nghĩa là:

  • Thể trọng 50kg, cần uống 2 lít nước mỗi/ngày.
  • Thể trọng 60kg, cần uống khoảng 2,5 lít nước/ngày.
  • Thể trọng 70kg, cần uống khoảng 3,0 lít nước/ngày.
Như vậy, mỗi người cần uống trung bình khoảng 8-10 cốc nước (mỗi cốc 0,25 lít) trong mỗi ngày. Có thể phân chia làm 2 giai đoạn: Buổi sáng uống nhiều hơn buổi chiều tối. Nhất là sáng sớm vì qua một đêm dài cơ thể không được tiếp nước.

uống nước nhiều hơn vào buổi sáng

Buổi tối uống ít hơn ban ngày. Tuy nhiên, đối với những người bị bệnh tim mạch , bệnh mãn tính ... cần có sự tham vấn của thầy thuốc để phù hợp với bệnh lý từng người.
Ăn uống là hai vấn đề chính tạo nên một chế độ dinh dưỡng của cơ thể con người. Chúng ta thường quan tâm nhiều đến ăn hơn là uống. Nhưng uống cũng có vai trò quan trọng không kém ăn. Trong cuộc sống hằng ngày cho thấy, sức chịu đựng của cơ thể con người nếu không ăn có thể chịu đựng được 30 ngày (thể hiện tuyệt thực của nhà hoạt động chính trị để phản đối chế độ hà khắc của nhà tù thực dân), nhưng chịu đựng được nhịn uống không lâu hơn 3 ngày. Vì sao? Khi nhịn ăn, thiếu nguồn dinh dưỡng do thức ăn cung cấp, cơ thể phải huy động mọi dự trữ nội tại để cố gắng duy trì hoạt động tối thiểu của sự sống. Còn nước đối với hoạt động cơ thể thì sao?

Uống nước nhiều rất tốt cho sức khỏe

Nước giúp cho cơ thể duy trì được lượng tuần hoàn máu, do đó duy trì được huyết áp. Nước là dung môi cho mọi chất dinh dưỡng, chuyển hóa, đào thải, vận chuyển được các chất đó trong cơ thể và trao đổi chúng với môi trường bên ngoài (ngoại môi). Bán gậy chống bằng gỗ dành cho người già tại TP.HCM, Gậy xịn gỗ nguyên chất 100%.

Nước là môi trường cho mọi phản ứng hóa học, trực tiếp tham gia một số phản ứng sinh hóa (thủy phân, oxi hóa), sự ngậm nước của các protein (chất đạm), chất keo (gel)... Nước làm giảm các ma sát của các màng tế bào (dịch gian bào), tham gia điều hòa thân nhiệt để duy trì thân nhiệt, tạo điều kiện thuận lợi cho các phản ứng sinh hóa hoạt động bình thường... Thiếu nước cộng với chất điện giải (ion, natri, kali, clo...) sẽ dẫn đến bệnh tật.

Nước tinh khiết

Nước chiếm 60-70% tổng khối lượng cơ thể. Nước trong cơ thể ở trạng thái nguyên thể hay kết hợp với protein. Số lượng nước trong cơ thể thay đổi theo lứa tuổi, giới tính (nam, nữ), tính chất béo gầy.

Một ngày, thể tích nước uống vào trung bình khoảng 1,8 lít, thể tích nước bài tiết ra khoảng 2,1 lít. Trong quá trình biến đổi và hấp thụ thức ăn khoảng 0,3 lít nước.

Trong 2,1 lít nước bài tiết thì 80-150ml ở phân, 850ml thải trừ qua đường thở (hô hấp) và tuyến mồ hôi, số còn lại qua thận. Cơ thể muốn hòa tan 50g qua chất cặn bã, thận phải thải trừ 0,5 lít nước. Như vậy, một người tối thiểu 1 ngày phải uống 1,4 lít nước.

Số nước vận chuyển qua niêm mạc ruột, một ngày trung bình thể tích dịch tiêu hóa là 8 lít, số đó lại được tái hấp thụ. Nước của môi trường ngoài tế bào (ngoại môi) chiếm khoảng 20%.

Như vậy, một người nặng 70kg, lượng nước ngoại môi là 14 lít, ta thấy lượng nước vận chuyển qua niêm mạc ruột so với lượng nước ngoại môi là không nhỏ. Cho nên các trường hợp nôn, ỉa chảy, sốt cao số lượng nước bị mất lớn. Điều này cho thấy việc cấp bách trong việc chữa bệnh là phải bù nước và chất điện giải.

Nước và sức khỏe

Khi trọng lượng cơ thể bị giảm 5% do mất nước, các dấu hiệu rối loạn sinh lý sẽ xuất hiện. Người ta phân loại độ mất nước làm 3 độ:

  • Độ 1: Khi cơ thể bị mất 4 lít nước.
  • Độ 2: Khi cơ thể bị mất 4-6 lít nước.
  • Độ 1: Khi cơ thể bị mất 6-10 lít nước.
Khi cơ thể mất 10-12 lít nước (khoảng 20-15%) lượng nước cơ thể thì sẽ rất nguy hiểm. Cơ thể sẽ bị rối loạn vận chuyển máu (huyết động) và chuyển hóa, dẫn đến tình trạng lâm nguy cho cơ thể con người.

Lan điếu

Lan điếu hay còn gọi là lan cheo, lan móc, thuộc họ hoa bách hợp. Có xuất xứ ở phía Nam Châu Phi, hiện nay ở nhiều vùng trên thế giới đều trồng loại hoa này.

Hoa lan điếu trắng

Lan điếu là cây thân cỏ sống lâu năm. Rễ thịt, thân rễ ngắn. Lá nhỏ hình dải dài, mọc bao quanh phần gốc, màu xanh tươi. Từ trong nách lá mọc ra cành bò ngang rũ xuống, bên trên đều mọc tiếp cây con và rễ phụ. Hoa nhỏ, màu trắng, ra hoa vào tháng 7. Quả sóc hình cầu dẹt.

Các loại Lan điếu thường trồng, ngoài Lan điếu lá xanh (lá có màu xanh tươi) ra còn có 2 loại đó là Lan điếu lá rộng, Lan điếu lá hẹp. Cả 2 loại Lan điếu lá rộng và Lan điếu lá hẹp đều phân thành 4 giống đó là: Giống viền vàng, giống tâm vàng, giống viền bạc, giống tâm bạc. Tổng cộng có tất cả 8 giống.

Lan điếu là cây ưa môi trường ấm, ẩm, bán râm. Sinh trưởng tốt trong môi trường đất cát tơi xốp, màu mỡ, thoát nước tốt.


Phương pháp chăm sóc Lan điếu

Lan điếu sinh trưởng nhanh, trong mùa sinh trưởng cần bón nhiều phân nhiều nước, và mùa hè cần tưới 1-2 lần nước, đảm bảo cho đất chậu luôn ẩm, cứ nửa tháng tưới nước phân ủ 1 lần. Do là cây ưa điều kiện không khí ẩm và bán râm nên cần chú ý phun nước lên cây và lên mặt đất để tăng độ ẩm không khí, đồng thời đặt dưới bạt che mát. Vào mùa đông yêu cầu nhiệt độ từ 5 độ C trở lên. Nhiệt độ thích hợp nhất trong khoảng 15-20 độ C. Rễ của Lan điếu sinh trưởng tương đối nhanh. Vì vậy cách 1-2 năm cần thay chậu hoặc đổ chậu 1 lần, khi thay chậu nên cắt bỏ những rễ già. Đồng thời có thể tách cây để nhân giống.

Phương pháp nhân giống Lan điếu

Thông thường sử dụng phương pháp tách cây và phương pháp cắt cây con.

Hoa lan điếu hồng


Tách cây: Thường tiến hành kết hợp khi thay chậu. Lấy dao tách từ phần giữa của cây mẹ ra. Khi tách lưu ý không làm tổn thương đến rễ và thân, sau đó tách cây trồng lên chậu, trồng xong tưới nước là được.

Cắt cây con: Vào mùa hè thu, tiến hành cắt những cây con mọc trên cành bò ngang để đem trồng lên chậu, trồng xong tưới nước là cây có thể lên.

Phương pháp phòng trừ sâu bệnh cho Lan điếu

Nếu như trong phòng không thoáng gió, thỉnh thoảng cây sẽ bị cây vỏ cứng tấn công, khi phát hiện sâu có thể dùng 50ml Dichlorovos 80% hòa 50kg nước để phun.

muốn bảo quản được nhân sâm lâu, trước hết phải làm khô bằng cách rang hoặc sấy ở nhiệt độ 60 đến 80 độ C (khoảng 40 phút đến 1 giờ) rồi cho vào lọc để bảo quản.

Bảo quản nhân sâm

Sau đó thường kỳ 15 hay 20 ngày, kiểm tra nếu thấy ẩm (lắc kêu không giòn), phải thay chất hút ẩm mới hoặc làm khô chất hút ẩm (có thể rang gạo đến vàng làm chất hút ẩm). Bán gậy chống bằng gỗ dành cho người già tại TP.HCM, gỗ xịn nguyên chất 100%.

Cách bảo quản này có nhược điểm là khi quên kiểm tra, quên thay chất hút ẩm thì sâm sẽ bị mốc mọt.

Sau đây là chất bảo quản nhân sâm rất tiện lợi:

  • Cắt nhỏ nhân sâm thành từng miếng: Nhỏ nhất khoảng 1 gam, to nhất khoảng 3 gam. Vì liều dùng nhân sâm từ 1-4 gam/lần.
  • Xếp các miếng nhân sâm vào lọ rộng miệng, sạch, khô, có nắp đậy kín...
  • Đổ mật ong (loại tốt không lẫn nước) ngập miếng sâm rồi đậy nắp lại (phòng kiến gió chui vào).
Khi cần dùng, lấy kẹp hoặc đũa sạch gắp miếng sâm ra.

Nhân sâm Hàn quốc


Làm cách này, có thể để cả năm nhân sâm cũng không bị hỏng.

Mật ong vừa là chất bảo quản chống mốc, mọt, vừa giữ cho nhân sâm không bị biến chất do độ ẩm của không khí, lại vừa là thuốc bổ.

Chú ý: Nhân sâm trong hộp sắt hàn kín cũng có hộp không kín (tuy tỷ lệ rất it) nhân sâm ở hộp này cũng bị mốc. Vì vậy, khi mua về nên bảo quản ngay theo phương pháp dùng mật ong nêu trên.

  • Không được dùng đồ kim lại để nấu sâm tươi

Dùng đồ kim loại để nấu sâm sẽ làm chất kim loại hòa tan với nhân sâm thành một loại độc dược hay có thể triệt tiêu chất bổ của nhân sâm.

Hồng sâm Hàn quốc


  • Không uống trà chung với nhân sâm

Trà có dược chất chống với nhân sâm nên vô hiệu hóa bổ dưỡng của nhân sâm. Vì vậy muốn uống trà thì phải uống 2 thứ cách nhau ít nhất 2-3 tiếng đồng hồ

  • Không nên dùng quá nhiều nhân sâm

Do nghĩ rằng nhân sâm là thuốc bổ, dùng càng nhiều càng tốt nên một số người đã hãm nhân sâm trong phích nước, dùng thay nước uống quanh năm. có người lại ăn nhân sâm như kẹo cao su... Việc lạm dụng nhân sâm như vậy đưa đến nhiều hậu quả nguy hiểm.

  • Sau khi uống nhân sâm không nên ăn củ cải và đồ biển

Tất cả các loại củ cải đỏ, trắng và hải sản đều cấm kỵ sau khi bạn dùng nhân sâm. Theo y học cổ truyền thì củ cải và đồ biển đại hạ khí, còn nhân sâm thì lại đại bổ khí, hai thứ triệt tiêu lẫn nhau gây hại cho gia đình.


  • Không nên dùng nhân sâm trước khi ngủ

Nhân sâm là vị thuốc quý, được đông y xếp vào loại thượng phẩm, nghĩa là những vị thuốc có tác dụng bổ và không độc tính, song không phải ai dùng cũng hiệu quả.

Hồng sâm Hàn quốc

Đông y dùng nhân sâm trong trường hợp chân khí kém, gây ra trạng thái mệt mỏi, vô lực của cơ thể hoặc các trạng thái kém ăn, da xanh xao, trí nhớ suy giảm của người già hay người mới ốm dậy. Tuy nhiên, hạn chế dùng cho trẻ em vì sâm có tác dụng "kích dục" sớm. Chỉ dùng với những trẻ chậm phát triển, cơ thể còi cọc, xanh gầy với liều thấp (2-4g/ngày) và thời gian ngắn (7-10 ngày). Với người lớn, nhân sâm có thể dùng 4-10g/ngày, dưới dạng hãm với nước sôi, uống nhiều lần trong ngày. Uống liền 2-3 tuần lễ. hoặc dưới dạng ngâm rượu, có thể ngâm sâm tươi (toàn rễ).Bán gậy chống bằng gỗ dành cho người già tại TP.HCM.Gậy gỗ nguyên chất, chắc chắn, đơn giản và sang trọng.

Nhân sâm rất tốt, tuy vậy, khi dùng chúng ta cũng cần chú ý không nên dùng nhân sâm sau khi ăn no hoặc vào buổi tối, lúc sắp đi ngủ, vì gây khó ngủ hoặc mất ngủ. Những người bị rối loạn tiêu hóa, đầy bụng, ăn uống khó tiêu hoặc đau bụng (viêm đại tràng), đại tiện phân sống nát, tiêu chảy không nên sử dụng nhân sâm.
Hiện nay có rất nhiều cơ sở bán nhân sâm tươi lừa gạt người tiêu dùng bằng cách bán nhân sâm 4 năm, 5 năm nhưng lại chào bán là nhân sâm 6 năm. Để giúp người tiêu dùng nhận biết, sau đây là các bước xác định số tuổi của nhân sâm do các chuyên gia nghiên cứu nhân sâm Hàn Quốc tổng kết lại.Bán gậy chống bằng gỗ dành cho người già tại TP.HCM.

Xem số tuổi của nhân sâm


  • Cách 1: Dựa vào hình dáng của củ nhân sâm
So với sâm ít năm tuổi hơn, phần chân của sâm 6 năm tuổi thường to, rắn chắc và nhìn bằng mắt có thể phân biệt rõ ràng với các rễ sâm bên cạnh.

  • Cách 2: Dựa vào các đốt của rễ củ sâm
Cũng như một số cây trồng lâu năm khác, mỗi năm tuổi của củ sâm cũng được thể hiện bằng cách sinh thêm một đốt trên phần rễ củ. Cách đếm: Từ chân củ nếu sinh ra 1 đốt thì nghĩa là nhân sâm 2 năm tuổi, 2 đốt là 3 năm tuổi... 5 đốt là sâm 6 năm tuổi.

  • Cách 3: Dựa vào số đốt của đầu củ sâm
Các chuyên gia Hàn Quốc khi xác định số năm tuổi củ sâm thường nhìn vào các đốt ở phần đầu củ sâm. Bởi vì cứ thêm 1 năm tuổi thì phần đầu củ sâm lại thêm một đốt, tuy nhiên phần đốt mọc thêm của năm sau không phải sinh tiếp trên phần đốt của năm trước mà mọc ở phía chéo đối diện, vì vậy ta có thể dễ dàng đếm được số đốt ở đầu củ sâm. Do càng nhiều năm thì thân củ càng to ra nên có thể che mất 1-2 đốt đầu tiên, vì vậy sâm 4 năm tuổi là 2 đốt, 5 năm tuổi là 3 đốt, 6 năm tuổi là 4 đốt trở lên.

Xem vân ruột củ nhân sâm


  • Cách 4: Dựa vào kích thước đầu củ sâm
Nếu là sâm 6 năm tuổi thì kích thước đầu và kích thước thân củ gần bằng nhau. Nhìn đầu củ sâm nếu bị thối 1 phần cũng có thể biết được do chất lượng trồng kém. Vì vậy, không ít trường hợp để người mua không nhận biết năm tuổi qua kích thước đầu củ sâm hay phát hiện ra sâm trồng kém chất lượng, người bán đã cố tình cắt bớt đầu củ sâm.

  • Cách 5: Dựa vào đường vân của ruột củ sâm:
Muốn xác định độ tuổi sâm bằng cách này, bạn dùng dao cắt ngang củ sâm cách về phía đầu khoảng 2-3cm, chờ khoảng 5 phút bạn dùng đầu ngón tay hay lòng bàn tay xoa lên bề mặt vừa cắt. Nhờ các nhựa từ củ sâm mà ta có thể thấy các đường vân nổi lên. Tuy nhiên, cần phải phân biệt giữa đường vân năm tuổi với các đường thớ củ (như đường thớ gỗ). Sâm 6 năm là có 5 đường vân.

Đối với sâm trồng từ quá 6 năm tuổi trở lên thì phần củ sẽ bắt đầu bị thối mục, các thành phần bổ dưỡng cũng bị giảm đáng kể.