Uống nước và sức khỏe (Phần 2)

Leave a Comment
Nước là chất hòa tan và tham gia vào quá trình lý hóa, ion hóa các chất điện giải, điều hòa áp lực thẩm thấu.

Trong cơ thể, áp lực thẩm thấu được bình ổn nhờ một hệ thống điều hòa rất chính xác. Thận với sự thải trừ nước tiểu có thành phần luôn thay đổi để phù hợp với chuyển hóa, đóng một vai trò quan trọng.

70% cơ thể chúng ta là nước

Chất điện giải trong cơ thể nhờ các ion Natri, Kali, Clo. Trong muối ăn (Natri clorua ) có các ion Na, Clo. Căn cứ điện giải mất kèm theo nước, người ta chia ra:

  • Mất nước ưu trương, khi mất nước nhiều hơn chất điện giải, gây ra tình trạng ưu trương cho cơ thể (mất nước do đái nhạt, do hơi thở, do mồ hôi, sốt cao) tiếp nước không đủ mà phải bù cho các chất điện giải.
  • Mất nước đẳng trương do nôn mửa, ỉa chảy... Hậu quả là ion Natri ngoài tế bào (ngoại mô), nước gian bào (dịch gian bào-lớp nước giữa 2 tế bào) vào tế bào qua màng tế bào để ion Kali thoát ra gây rối loạn điện giải. Do vậy, trong điều trị việc bù đắp nước còn phải bù đắp cả chất điện giải. Vì vậy, trường hợp này, thầy thuốc thường cho uống dung dịch O-re-don (ORS) hoặc nặng thì truyền dung dịch Lactat Ranh De (Lactat Ringer).
Mỗi khi ta bị ra nhiều mồ hôi (đi dưới nắng nóng, tập thể thao...), ta cảm thấy khát nước, báo hiệu một hiện tượng thiếu nước trong cơ thể. Nhưng uống bao nhiêu nước đến no bụng vẫn thấy khát. Nếu pha vào nước một ít muối ăn (Natri clorua), uống tuy ít nhưng vẫn thấy đỡ khát hơn. Vì sao? Lượng mồ hôi thay đổi rất lớn (0,2-0,5 lít) tùy theo thời tiết, cường độ lao động.Mua gậy chống bằng gỗ cho người già tại TP.HCM. Gậy chống chắc chắn và bền bỉ.

uống nước ngay cả khi bạn chưa khát

Nói chung, mồ hôi có tính nhược trương nhưng nồng độ điện giải (ion Natri và Clo) dao động khi cơ thể mất 4 lít nước, sự bù đắp nước trong mồ hôi dễ dàng bằng uống nước. Nhưng khi mất 5 lít nước trở lên, cơ thể tuy điều tiết bài tiết ra ít muối hơn nhưng vẫn phải bù đắp thêm muối. Nếu chỉ uống nước không, dịch ngoài tế bào trở nên nhược trương, tế bào tích nước, rối loạn chuyển hóa:  người mau mệt mỏi, vã mồ hôi (thứ phát), uể oải, nhức đầu, buồn nôn, tim mạch nhanh...

giọt nước

Vai trò của nước uống thật quan trọng. Nếu chúng ta chỉ uống nước khi thấy khát nghĩa là khi cơ thể thật sự thiếu nước, điều này thật không tốt cho cơ thể. Một chế độ dinh dưỡng tốt là phải cung cấp thường xuyên đầy đủ nước cho cơ thể để các cơ quan nội tạng hoạt động bình thường. Thông thường để có thể có đủ lượng nước , mỗi ngày nên uống ít nhất 0,4 lít nước cho mỗi 10kg trọng lượng, nghĩa là:

  • Thể trọng 50kg, cần uống 2 lít nước mỗi/ngày.
  • Thể trọng 60kg, cần uống khoảng 2,5 lít nước/ngày.
  • Thể trọng 70kg, cần uống khoảng 3,0 lít nước/ngày.
Như vậy, mỗi người cần uống trung bình khoảng 8-10 cốc nước (mỗi cốc 0,25 lít) trong mỗi ngày. Có thể phân chia làm 2 giai đoạn: Buổi sáng uống nhiều hơn buổi chiều tối. Nhất là sáng sớm vì qua một đêm dài cơ thể không được tiếp nước.

uống nước nhiều hơn vào buổi sáng

Buổi tối uống ít hơn ban ngày. Tuy nhiên, đối với những người bị bệnh tim mạch , bệnh mãn tính ... cần có sự tham vấn của thầy thuốc để phù hợp với bệnh lý từng người.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét